RSS Feed

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

KỸ NIỆM CÁC NGÀY VÍA ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT Ở CÕI TA BÀ :

  1. NGÀY MÙNG 8 THÁNG 4 ÂM LỊCH : NGÀY ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT GÍANG SANH Ở CÕI TA BÀ ĐỂ CỨU ĐỘ CHÚNG SANH.

  2. NGÀY MÙNG TÁM THÁNG 2 ÂM LỊCH : NGÀY ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT XUẤT GIA ĐỂ THÀNH PHẬT NGAY TRONG CÕI TA BÀ NHẰM GIÁO HÓA CHÚNG SANH THOÁT KHỔ SANH TỬ.

  3. NGÀY MÙNG 8 THÁNG 12 ÂM LỊCH : NGÀY ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT THÀNH ĐẠO.

  4. NGÀY RẰM THÁNG 2 ÂM LỊCH : NGÀY ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT NHẬP NIẾT BÀN .

………….
16. Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất : “Pháp mầu như thế, các đức Phật Như Lai đến khi đúng thời mới nói đó, như bông Linh thoại đến thời tiết mới hiện một lần. Xá Lợi Phất ! Các ông nên tin lời của Phật nói không hề hư vọng.

17. Xá Lợi Phất ! Các đức Phật theo thời nghi nói pháp, ý thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện, các món nhơn duyên, lời lẽ, thí dụ diễn nói các pháp.
Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các đức Phật mới biết được đó. Vì sao ? Các đức Phật Thế Tôn , chỉ do một sự nhơn duyên lớn mà hiện ra nơi đời.
Xá Lợi Phất ! Sao nói rằng các đức Phật Thế Tôn chỉ do một sự nhơn duyên lớn mà hiện ra nơi đời? Các đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh khai tri kiến Phật để đặng thanh tịnh mà hiện ra nơi đời ; Vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sanh mà hiện ra nơi đời ; Vì muốn cho chúng sanh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời ; Vì muốn cho chúng sanh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời.
Xá Lợi Phất ! Đó là các đức Phật do vì một sự nhơn duyên lớn mà hiện ra nơi đời.

18. Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất : “ Các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ tát, những điều làm ra thường vì một việc : Chỉ đem tri kiến Phật chỉ cho chúng sanh tỏ ngộ mà thôi”.
Xá Lợi Phất ! đức Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp, không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác.

19. Xá Lợi Phất ! Pháp của tất cả các đức Phật ở mười phương cũng như thế.
Xá Lợi Phất ! Thuở quá khứ các đức Phật dùng vô lượng vô số phương tiện, các món nhơn duyên, lời lẽ, thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp. Vì pháp đó đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều đặng chứng “ Nhứt thiết chủng trí”.
Xá Lợi Phất ! Thời vị lai, các đức Phật sẽ ra đời cũng dùng vô lượng vô số phương tiện, các món nhơn duyên lời lẽ, thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa, nên các chúng sanh đó theo Phật nghe pháp rốt ráo đều đặng chứng “ Nhứt thiết chủng trí”.
Xá Lợi Phất ! Hiện tại nay, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi Phật ở mười phương, các đức Phật Thế Tôn nhiều điều lợi ích, an vui cho chúng sanh. Các đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện , các món nhơn duyên, lời lẽ , thí dụ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, vì pháp đó đều là một Phật thừa, các chúng sanh ấy theo Phật nghe pháp rốt ráo đều đặng chứng “ Nhứt thiết chủng trí”.
Xá Lợi Phất ! Các đức Phật đó chỉ giáo hóa Bồ tát, vì muốn đem tri kiến Phật mà chỉ cho chúng sanh, vì muốn đem tri kiến Phật cho chúng sanh tỏ ngộ, vì muốn làm cho chúng sanh chứng vào tri kiến Phật vậy.

Xá Lợi Phất ! Nay Ta cũng lại như thế, rõ biết các chúng sanh có những điều ưa muốn, thân tâm mê chấp, Ta tùy theo bổn tánh kia dùng các món nhơn duyên, lời lẽ, thí dụ cùng sức phương tiện mà vì đó nói pháp.
Xá Lợi Phất ! Như thế đều vì để chứng đặng một Phật thừa “ Nhứt thiết chủng trí”.

20. Xá Lợi Phất ! Trong cõi nước ở mười phương còn không có hai thừa hà huống có ba !
Xá Lợi Phất ! Các đức Phật hiện ra trong đời ác năm trược, nghĩa là : kiếp trược, phiền não trược, chúng sanh trược, kiến trược, mạng trược. Như thế, Xá Lợi Phất ! lúc kiếp loạn trược, chúng sanh nhơ nặng, bỏn sẻn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các đức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba.

21. Xá Lợi Phất ! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A la hán cùng Duyên giác mà không nghe không biết việc của các Đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ tát, người này chẳng đệ tử Phât, chẳng phải A la hán, chẳng phải Duyên giác.

Lại nữa, Xá Lợi Phất ! Các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đó tự cho mình đã đặng A La Hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nên biết bọn đó là kẻ Tăng thượng mạn. Vì sao ? Nếu có Tỳ kheo thật chứng quả A La Hán mà không tin Pháp này , quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ, hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những Kinh như thế, người hay thọ trì,đọc tụng, hiểu nghĩa rất khó có đặng, nếu gặp đức Phật khác, ở trong Pháp này, bèn đặng hiểu rỏ.
Xá Lợi Phất ! Các ông nên một lòng tin hiểu, thọ trì lời Phật dạy. Lời các đức Phật Như Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi.
22.

…………….
Trích Kinh Diệu Pháp Liên Hoa , quyển thứ nhứt, phẩm “phương tiện” thứ hai.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


PHÉP QUÁN TƯỞNG CÚNG DƯỜNG CHƯ PHẬT – CHƯ ĐẠI BỒ TÁT

(trích : KINH THỦ HỘ QUỐC GIỚI CHỦ ĐÀ LA NI)

(… Thiện nam tử, nếu các Phật tử muốn thanh tựu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nếu muốn khéo hay biết được tự tâm , nếu muốn dùng đại từ bi cứu khổ chúng sanh nơi bùn lầy sanh tử. Trước tiên phải phát khởi tâm đại từ bi , khắp vì chúng sanh quy y Tam bảo, thọ Bồ tát giới, phát tâm Bồ đề, chí thành sám hối, nói như thế này: )

“ Duy nguyện mười phương hết thảy chư Phật và cùng chư đại Bồ tát trụ địa được trí Kim cang, xin chứng biết con, xin nhớ nghĩ con, con tên là … và tất cả… phát tâm Bồ đề chưa trụ diệu đạo, nay đem thân mạng quy y mười phương hết thảy Tam Bảo, duy nguyện chư Phật, chư đại Bồ tát khởi tâm từ bi ai mẩn nhiếp thọ. Con tên là … và tất cả… từ vô thỉ lưu chuyển đến nay, sanh tử nơi tam giới, luân chuyển chìm đắm trong ác thú, vào lưới tù khổ, điên đảo, rơi trong các đường ác. Vô minh, La sát có thế lực lớn, các phiền não oán đêm dài bức bách. Không có chủ, không được cứu giúp, không nơi nương tựa, không chổ trở về, không nơi thú hướng, không có người chỉ đường, trụ trong con đường tà kiến hiễm ác. Hướng về sanh tử, xả bỏ Niết bàn. Vào ba đường ác, chẳng thể tự ra khỏi, đi theo bạn ác, tùy thuận lời dạy xấu ác. Xa lìa hết thảy thiện tri thức, đều không hay biết thế nào là tổn hại, thế nào là lợi ích, thế nào là thiện, thế nào là ác. Chấp trước ràng buộc làm theo pháp bất thiện không xả bỏ, xa lìa tất cả bậc thánh nhân của tam thừa. sanh, lão, bệnh , tử, ưu bi, khổ não, thường bị các món hoặc nghiệp bao che, sầu khổ bức bách, sợ sệt, hằng mất bổn tâm tự tánh thanh tịnh. Xa lìa các món Tam ma địa môn, Đà la ni môn, chỗ trụ các Địa, các Nhẫn ba la mật đa thâm sâu. Cũng lại xa lìa từ bi hỷ xả, các giới Bồ tát, Tứ vô ngại trí, và Sáu pháp thần thông, Thập lực, Tứ vô sở úy, quên bỏ chánh pháp, không trụ Niết bàn, ruỗi theo hết thảy thân con đầy đủ

Thân con đều có tất cả công đức, bảy phần Bồ đề, tám thánh đạo, như thế v.v… trăm ngàn vạn pháp thãy đều xa lìa. Khổ não vô số, chướng ngại lưu nạn, những món ấy hằng làm não hại.

Duy nguyện chư Phật, chư đại Bồ tát, khởi đại từ bi, ai mẫn hộ niệm, vì con làm chủ, vì con cứu khổ, làm nơi nương tựa, làm nơi trở về, làm chổ thú hướng của con. Nguyện khiến cho con v.v… mau được đầy đủ đại đạo Bồ đề và ở vô lượng Bồ đề quyến thuộc , Thập lực, Vô sở úy, Trí vô ngại giải, Mười tám pháp bất cộng, Tứ nhiếp pháp, Tam muội, Giải thoát, Tổng trì, Lục thông, Các độ, Phước đức, Trí huệ của Như Lai, hết thảy các biển công đức như vậy, nguyện khiến cho con v.v… thảy đều được đầy đủ.

Lại nữa, mười phương hết thảy chư Phật, chư đại Bồ tát nên chứng biết cho con, nên thương nhớ con, thọ sự cúng dường của con. Nguyện khiến con chứa nhóm, cung cấp đầy đủ và cùng thân con biến đủ mười phương không có chủ tể. rộng lớn vô lượng trang nghiêm đầy đủ, hiện đến trước cúng dường chư Phật và Bồ tát, các món báu vi diệu của cung điện chư Thiên , riêng lấy diệu bảo mà làm trang nghiêm, cây lan can báu phân bày thứ lớp, cây báu, núi báu làm cho ngời sáng. Tòa báu, tán cái báu, tràng báu, phan báu, khí báu, châu báu, linh báu, lưới báu, quang báu, diệm báu, và công đức báu. Mỗi mỗi vô lượng, vô số bảo châu, châu ma ni chứa đầy trong đó. Các cây báu sáng, món món diệu hòa lẫn trang nghiêm. Lưới báu che phủ phát ra ánh sáng màu vàng, lại có vô số hoa sen quý báu vi diệu, lấy vàng Diêm phù đàn làm đài, vàng ròng làm cánh, hoa nở xinh đẹp. Mây báu trời nhóm họp, mưa thiên báu rơi xuống, cây báu cõi trời rơi các hoa báu. Mở các bảo quang , khai các bảo tạng.
Lại có vô số vàng Diêm phù đàn , chư Thiên lấy các báu trang nghiêm cung điện, diệu bảo làm mái, kim cang làm tường, các cây lan can bằng báu bao phủ xung quanh. Tiên cùng chư Thiên có nhiều vườn hoa vi diệu, trong vườn có nhiều giống hoa cỏ thơm nở tỏa khắp nơi, vô số cung Rồng, cung A tu la , riêng có cây rừng, nhà cửa, hương hoa và đồ báu, lấy như thế v.v… vô lượng vô biên, các món báu chưa từng thọ dụng, cung cấp đầy đủ, đều đem cúng dường, hồi hướng mười phương chư Phật và Bồ tát. Lại lấy tất cả các món diệu dược mười phương thế giới, các món cam lồ cõi trời, cùng các món trân mỹ, sắc , hương, mỹ vị cõi trời thãy đều đầy đủ. Lại lấy hết thảy các cây thơm ở mười phương thế giới như cây Long nảo, Chiên đàn, cây Tùy thời, cây Đại diệp, những cây thơm đó bốn mùa đều nở hoa, mùi thơm mỹ diệu liên tục, nếu có mùi hôi, tan biến vào hư không. Vô lượng các cây thơm như vậy, cỏ thơm rạng rỡ la liệt, hay là tâm người nhu nhuyến.
Lại có các loại cây như ý không có chủ, tùy tâm cầu nguyện thảy được đầy đủ. Trong các biển lớn có các món báu ma ni và các báu như ý, lại có các món báu, núi Mê lô, núi Ma ha Mê lô, núi Yết la tư, núi Kiền đà mạt đà, núi Ma la đa, núi Vĩ nhỉ đa, núi Dân đà la, núi Ma ha Dân đà la, núi Mục chơn lân đà, núi Ma ha Mục chơn lân đà, núi Kim Sơn, đãnh núi như vậy, các món trang nghiêm, các lầu gác báu. Các món báu nham khuất, các món tràng phan báu, các mái nhà báu, các thềm bực báu, các cữa sổ báu, các đồ sức báu, cột kèo bằng báu, các kho bằng báu, lưu ly v. v… các báu làm tường.
Lại có các loại màu sắc vi diệu, các cung điện của chư Thiên không có chủ. Lại có các loại hoa của chư thiên vi diệu như Cu tô ma v.v… người thấy được vui vẻ, thanh lương không biết chán.
Lại có các món âm thanh vi diệu, hay khiến người nghe thân tâm an lạc, không có bực dọc mà được trong lành, đoạn trừ nhiếp phục tham sân, tản hết si độc, làm băng hoại mọi ác nghiệp không còn thừa. tiếng trời Đế thích , tiếng trời Phạm thiên, lời ca vịnh của đại tiên nữ, tiếng các món nhạc khí của trời chẳng nhơn tấu vỗ mà phát ra âm thanh vi diệu. tiếng của các loại đờn Cầm , Sắc , Không Hầu, Trúc, Tiêu, Tỳ bà, đầy đủ các âm thanh, các tiếng trống của trời Đao Lợi, trời Mưu đà la.
Lại có các âm thanh phát ra từ những con chim ở các cõi trời và những tiếng của núi rừng, suối sông và các loại chim khác như Bạch hạc, Khổng tước, Le le, Nhạn, Uyên ương, Câu chi la, Mạn mạn, Ca lăng tần dà, các loại chim, Lộc vương hót lên tiếng các loại âm thanh vi diệu.
Lại có các âm thanh như tiếng của mây, tiếng đất, tiếng nước, tiếng lữa, tiếng gió, tiếng sóng biển, các loại âm thanh như thế v.v… người được nghe hiểu thấu và ưa thích không nhàm chán. Nhĩ căn an tịnh nghe âm thanh đó sâu xa, lời nói chơn thực, lời nói vi diệu hay phát sinh thiện căn,văn, chữ tên , câu thảy đều đầy đủ cùng nghĩa lý tương ưng, pháp lý phù hợp thâm sâu, khéo hợp thời nghi , âm thanh tam thừa bình đẳng, âm thanh diễn nói Tam minh, âm thanh trang nghiêm Đàn na ba la mật, âm thanh thanh tịnh Thi la ba la mật, âm thanh hay sinh sằn đề ba la mật, âm thanh cần mẫn tu tập Tinh tấn ba la mật, âm thanh thành tựu Thiền na ba la mật, âm thanh rộng lớn Bát nhã ba la mật, âm thanh cùng tâm hòa hợp đại từ, âm thành cùng giác hòa hợp Đại bi, âm thanh ánh sáng hòa hợp đại hỹ, âm thanh đồng như hư không đại xả, âm thanh phát sanh Tam thừa, âm thanh không đoạn diệt Tam Bảo, âm thanh phân biệt tiếng Tam tụ, thanh tịnh Tam không, âm thanh quán sát Tứ đế, âm thanh quán sát Trí huệ. Người trí không bỏ âm thanh, Thánh giả khen ngợi âm thanh vô lượng v.v… như tiếng hư không, phát ra như thế v.v… âm thanh thanh tịnh, hồi hướng cúng dường chư Phật , Bồ tát.
Lại có các giống hoa nở đẹp đẽ thơm tho, có các loại cây màu rũ xuống các hoa. Cây tràng cao hiển bày Kiến lập, cây phướn tiếp nối nhau phát ra ánh sáng, được các vật hết thảy như thế v.v… đem tâm vô ngã hồi hướng cúng dường hết thảy chư Phật, chư đại Bồ tát.
Lại lấy tất cả Phật nhãn thấy mười phương vô biên thế giới, dùng mây đại cúng dường, các món mây hoa, các món mây hương, mây man, mây tràng, mây đồ hương, mây mạt hương, mây Bảo cái, mây Bảo tòa, mây Bảo tràng, mây Bảo phan, mây Diệu bảo, y phục, các mây báu đầy đủ, để làm việc cúng dường. mây Thượng vị của chư Thiên, mây Ma ni bảo nhóm họp vô lượng, các món sắc mây báu như vậy nhóm tụ để cúng dường, hồi hướng hết thảy chư Phật, chư đại Bồ tát…
Lại nên nguyện lấy tiểu thiên thế giới làm chén nhỏ để thắp đèn, trong đó đủ trăm loại dầu thơm dùng để thâp đèn thanh ngọn lữa báu, phát ra đại quang minh cúng dường hết thảy chư Phật và Bồ tát, cúng dường như vậy không có cùng tận.lại phải khuyến thỉnh hết thảy Như Lai đến cây Bồ đề hàng phục các ma, thành Đẳng chánh giác, chuyển vi diệu Pháp Luân, trụ lâu một đại kiếp mới nhập Niết Bàn.
Lại phải lấy các món thiện căn hồi hương cho chúng sanh, nguyện các chúng sanh mau chứng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Lúc hồi hướng như vậy, chằng thấy tâm năng hồi hướng , chẳng thủ chổ cảnh giới hướng, chẳng đắm chổ hồi, căn lành Tam Luân thanh tịnh.
Lại nữa, hết thảy Như Lai, hết thảy Bồ tát, tất cả chúng sanh như thế…. Các loại, chổ có công đức con đều tùy hỷ, lại nguyện lấy thiện căn này nguyện khiến con và tất cả… các chướng cực nặng cùng các ác nghiệp thảy được tiêu trừ.”

(lúc ấy đức Thế tôn liền nói hồi hướng Đà la ni rằng )

“Án , bà ma, la bà ma, la vi ma nẳng bà la, ma ha chiết ca la , phược hồng”.

…….

(Phật dạy : “ các món cùng dường đầy đủ như trên đã nói, lấy sức Đà la ni hồi hướng đầy, đối trước chư Phật chơn thực cúng dường đều được thành tựu, tất cả chư Phật đều nhiếp thọ, . nếu thiện nam tử và thiện nữ nhơn có thể ở nơi đây, đại hồi hướng Luân Đà la ni môn, hoặc ngày hoặc đêm, thầm niệm một biến rồi quán sát vận tưởng , lấy những món đầy đủ như trước cung kính cúng dường chư Phật và Bồ tát, do sức này nên tội ngũ vô gián, tội nghiệp cực trọng… đều được tiêu diệt. huống hồ là tội nhẹ mà không diệt trừ sao? hết thảy phiền não đều được giãm suy như chổ nói ở trên. Thập lực , vô sở úy, các công đức…. đều được đầy đủ.
Nếu người, nơi Đà la ni này tạm thời tư duy một biến lại được trăm kiếp sanh vào cung trời Đế thích, trăm kiếp lại được sanh vào cung Phạm vương. Đêm nằm mộng thấy Phật và Bồ tát vì nói diệu pháp, không có ác mộng, nơi các tổng trì thảy được thành tựu. ngài Chấp Kim cang Bồ tát thường nhiếp thọ hộ niệm.)

LỢI ÍCH VỀ SỰ TRÌ TỤNG BÀI CHÚ THỦ LĂNG NGHIÊM (ST)

( Ai đã nhận được bài chú này, thì giữ gìn cho cẩn thận, cho tinh khiết, chớ để ô uế mà phải tội, vì bài chú này ở chổ nào cũng thường có vô số các vị Kim Cang Bồ Tát đi theo hộ trì)

Bài chú Thủ Lăng Nghiêm này ở trong quyển Nhật tụng Bồ đề vẫn đã có: nguyên là một bài chú rất dài, trong khóa lễ buổi sáng; vì khó học, khó nhớ, cho nên lâu nay ít người đọc tụng ; gần như quên bẳng đi không ai biết đến nữa.
Trong sách Phật có chép rằng, hễ đến đời Mạt Pháp, thời kinh Phật mất dần đi cho đến hết; bắt đầu kinh Thủ Lăng Nghiêm mất trước nhất, rồi sau cùng mới đến kinh A Di Đà, thế là hết. Gần đây thấy phần nhiều người tu học đạo Phật, tài nhỏ sức yếu, không tụng nổi chú Thủ Lăng Nghiêm, không hiểu nghĩa kinh Thủ Lăng Nghiêm; thế thời đủ biết rằng đến đời Mạt Pháp sau này, lời nói tiên tri trên không phải là không đúng.
Kinh chú này nguyên là Pháp tạng bí áo của chư Phật trong mười phương, những người ít phúc đức, nhân duyên, thì không được gặp. Tổ Thiên Thai, khi được nghe nói đến kinh này, thì Tổ lập đàn khẩn bái ròng rả trong 18 năm, mong cho được gặp, nhưng vì tuổi đã già, mà không được kịp thấy, có lẻ cũng vì lòng tin thành khẩn của Tổ, mà chẳng bao lâu về sau, bổng có ngài sa môn Bát Lạt Mật Đế vượt biển đem dấu sang cho; vì bấy giờ ở bên Ấn Độ cho kinh này là của báo Quốc cấm, không cho đem ra nước ngoài.
Những tà ma yêu quái rất sợ hãi kinh này cho nên thường ám vào những người có tà tâm mà phao lên rằng kinh này không phải là của Phật. Cốt để cho mê hoặc lòng người, làm cho không còn ai đọc tụng đến nữa, làm cho Phật Pháp chóng tiêu diệt đi, thì chúng mới dễ đường lừa gạt người ta mà mưu danh cầu lợi.
Nếu bảo kinh này không phải của Phật nói ra, thì sao từ xưa đến nay các vị Đại Tông Sư đều bởi tu học kinh này mà thành đạo cả? Nhất là trong phái Thiền Tông và phái Thiên Thai, hiện nay vẫn còn tu học kinh này, thì đã rõ.
Chúng tôi sở dĩ viết bài chú này đem cúng dâng các bạn đồng đạo, là chúng tôi chí tâm cầu đức A Nan Đà Tôn giả phù hộ cho chúng sinh; Ngài là một đệ tử rất yêu quí của đức Thế Tôn, Ngài đã phát nguyện và nhận lãnh trách nhiệm của Phật giao cho : là Ngài phải phù hộ cho hết thẩy chúng sinh tu hành ở dời Mạt Pháp, được thoát khỏi tay bọn tà ma hãm hại: được mau chóng thành đạo Bồ đề; và chúng tôi cũng chí tâm cầu khẩn các vị học Phật tu hành, nên sớm khuya chuyên cần trì tụng chú Thủ Lăng Nghiêm, thì bọn tà sư ma quỉ không dám đến quấy nhiễu nữa, rồi sau mới có cơ mau chóng thành đạo Bồ Đề ( Bồ Đề là “chánh biến tri giác”, tức là giác ngộ hiểu biết chân chánh, thấu suốt hết mọi lẽ trong muôn sự muôn vật không chút sai lầm)

  • Nam mô Đại thánh khải giáo A Nan Đà Tôn giả.
  • Nam mô Kim Cương Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
  • Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ Tát.

Còn về sự lợi ích và linh nghiệm, thì sau khi Phật đã tuyên đọc bài chú này cho ngài A Nan Đà nghe rồi, Phật liền giải thích rõ ràng, vậy xin các vị học Phật tu hành cứ tin theo lời Phật nói là đủ.
Nay chúng tôi chỉ xin giải nghĩa ba chữ Thủ Lăng Nghiêm là cái tên bài chú này, chúng tôi thiết tưởng hiểu rỏ được ba chữ Thủ Lăng Nghiêm mà phụng trì, thì rồi cũng có thể hiểu suốt được nghĩa kinh Thủ Lăng Nghiêm và nghĩa chú Thủ Lăng Nghiêm, vì kinh tức là chú, mà chú tức là kinh. Mà bao nhiêu những nghĩa lý nói ở trong kinh chú đều gói cả vào trong mấy chữ tên ấy rồi.
Thủ Lăng Nghiêm là tiếng Phạn ( tiếng Sanscrit bên nước Ấn Độ) chính đọc là “ Su – răng – ga – ma” nghĩa là cái tâm tánh của mình, cái tâm tánh của chư Phật, cái tâm tánh của chúng sanh, tâm tánh ấy “kiên cố” bền chặt, chẳng sanh, chẳng diệt, vẫn phát hiện ra muôn sự muôn vật, mà vẫn thường còn, sáng suốt , vẳng lặng, như hư không; thật là cái “Tâm” Diệu Định, Viên Định, và Đại Định cho nên lại gọi là “ Như Lai tặng tâm” lại có một tên nữa gọi là “ Phật đỉnh quang tụ, sát đát đa, hát đát ra”. Chữ Phật đỉnh là đỉnh đầu Phật, chữ quang tụ là ánh sáng hào quang kết tụ chữ sát đát đa bát đát ra là tiếng Phạn, chính đọc là “ si – ta – ta – Pa – ta – ra ; nghĩa là cái tàng trắng xóa hay là cái lọng trắng tinh, che chùm hết cả muôn loài mà vẫn trắng trong, không hề vấy bẩn. Vậy Phật đảnh quang tụ, sát đát đa bát đát ra nghĩa là ánh sáng hào quang kết tụ ở đỉnh đầu Phật phát ra tròn xoe, trắng xóa, như cái tàng , cái lọng, che chùm tất cả muôn sự muôn vật; ở trong ánh sáng trắng tinh ấy vẫn hiển hiện ra muôn loài, mà không bao giờ có một chút dấu vết gì vấy bẩn vào đấy.
Vậy người học Phật phải hết lòng y theo chú này, kinh này mà tu luyện cho kỳ thấy rõ cái tâm tính ấy hiện ra, tức là thành Bồ Tát, thành Phật.
Trì chú này, tốt nhất nên ăn chay trường (nếu không thể thì tập ăn từ từ 1 tháng 2 ngày, 4, 6.. 10 ngày), và kiêng ăn hành, hẹ, tỏi, kiệu và một thứ cây Hingu ở bên Ấn Độ, bên xứ ta không có. Phải kiêng thịt cá và rượu. Lại phải giữ 4 giới, một là : cấm sát hại các loài sinh vật, hai là: cấm tà dâm: chớ tham muốn vợ, chồng người ta, ba là :cấm trộm cắp , lừa đảo, bốn là : cấm nói càn, nói thêu dệt, nói lời ác độc, chửi rủa, nói đòn sốc 2 đầu lưỡi làm hại người nọ, người kia, nói tự xưng mình là Thánh, là Bồ tát, là Phật. Bốn giới này gọi là SÁT, ĐẠO, DÂM, VỌNG, là bốn trọng giới, tức là cấm ngặt, nhất là cái tâm không bao giờ được nghĩ đến 4 sự ấy. Nghĩ đến tức là phá giới rồi.
Có nhiều người thành tâm tu hành, giữ giới tự trong tâm, thế mà cái tâm nó cứ nghĩ đến 4 sự ấy luôn, muốn trừ tiệt ngay nó đi, mà không tài nào trừ được, đấy là bởi tiền oan nghiệp chướng, ma quỷ nó ám vào trong tâm mình để nó phá hại sự tu hành của mình; Phật đã biết rõ như thế, cho nên Phật bảo ngài A Nan rằng: nếu có người nào nghiệp chướng nặng nề, không thể trừ tiệt ngay được 4 sự nghĩ ấy ở trong tâm, thời nên đeo bài chú này ở trong mình và mỗi khi nghĩ đến 4 sự ấy, thì tụng ngay 34 chữ cuối ở cuối bài chú này : án a na lệ tỳ xá đề, bệ ra bạt xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nễ, bạt xà ra bàn ni phấn, hủ hàm, tô rô ung phấn , sa bà ha.
Cứ tu luyện như thế, lâu lâu rồi tự khắc cái tâm được thanh tịnh, giải thoát, không còn nghĩ đến sự sát, đạo, dâm, vọng ấy nữa và cầu gì được nấy, y như lời Phật nói ở trong kinh mà chúng tôi đã dịch ra ở sau bài chú này. Phép tu luyện như thế, gọi là tu Định, mà tu Định tất phải giữ giới mới phát sinh ra Định, Định thành rồi mới phát sinh ra Trí tuệ, Giới, Định, Tuệ gọi là Tam vô lậu học. ( ba sự học về chân thiện hoàn toàn)

PHÉP TRÌ CHÚ

Định tâm, thắp hương trước bàn Phật và mật niệm các bài chú sau:

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN
Án lam xóa ha (7 lần)

TỊNH KHẨU NGHIỆP CHƠN NGÔN
Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị sa bà ha (3 lần)

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Án, ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần)

PHỔ CÚNG DƯỜNG CHƠN NGÔN

Án nga nga nẳng, tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (3 lần)

CÚNG HƯƠNG
Nguyện thử diệu hương vân
Biến mãn thập phương giới
Cúng dường nhất thế Phật
Tôn pháp chư Bồ tát
Vô biên Thanh văn chúng
Cập nhứt thế thánh hiền
Duyên khởi quang minh đài
Xứng tánh tác Phật sự
Phổ huân chư chúng sinh
Giai phát Bồ đề tâm
Viễn ly chư vọng nghiệp
Viên thành vô thượng đạo
Thành tựu Như lai Hương
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ tát ma ha tát (3l)

HƯƠNG TÁN

Lư hương sạ nhiệt, pháp giới mông huân, chư Phật hải hội tất diêu văn, tùy xứ kiết tường vân, thành ý phương ân, chư Phật hiện toàn thân, nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)
PHỔ LỄ CHƠN NGÔN

Án phạ nhựt ra vật (3 lần)
KỲ NGUYỆN

Đệ tử chúng đẳng, nguyên Thập phương thường trụ tam bảo, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,Tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, từ bi gia hộ đệ tử… bồ đề tâm kiên cố, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, dữ pháp giới chúng sanh, nhứt thời đồng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề .( 3 lạy)

TÁN PHẬT
Pháp vương vô thượng tôn
Tam giới vô luân thất
Thiên nhơn chi đạo sư
Tứ sanh chi từ phụ
Ư nhứt niệm quy y
Năng diệt tam kỳ nghiệp
Xưng dương nhược tán thán
ức kiếp mạc năng tận.

QUÁN TƯỞNG
Năng lễ sỡ lễ tánh không tịch
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì
Ngã thử đạo tràng như đế châu
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền
Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ

  • Chí tâm đảnh lễ: Y pháp tính độ, vô tướng vô vi, thanh tịnh pháp thân, Tỳ Lô Cha Na Phật ( 1 lạy)

  • Chí tâm đảnh lễ: Y Thụ Dụng độ, vô lậu tự, tha, viên mãn Báo thân, Lô xá na Phật. ( 1 lạy)

  • Chí tâm đảnh lễ: Y Biến hóa độ, ứng hiện thập phương thiên bách ức Hóa thân, bản giáo chủ Thích Ca Mâu Ni Phật. ( 1 lạy)

  • Chí tâm đảnh lễ: Đương Lai Giáo chủ Di Lặc tôn Phật. ( 1 lạy)

  • Chí tâm đảnh lễ: Đông phương giáo chủ, Tiêu tai diên thọ Dược sư Lưu ly Quang Vương Phật. ( 1 lạy)

  • Chí tâm đảnh lễ: Tây phương giáo chủ, Cực lạc thế giới , đại từ đại bi, tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật. ( 1 lạy)

  • Chí tâm đảnh lễ: đại Phật đảnh Thủ Lăng Nghiêm tôn Pháp. ( 1 lạy)

  • Chí tâm đảnh lễ: Đại bi Quán thế âm Bồ tát ma ha tát. ( 1 lạy)

  • Chí tâm đảnh lễ: Kim Cương tạng Vương Bồ tát ma ha tát. ( 1 lạy)

  • Chí tâm đảnh lễ: Thanh tịnh đại hải chúng Bồ tát ma ha tát cập Hộ Pháp Chư Thiên Bồ tát. ( 1 lạy)

Xong rồi quỳ xuống đọc bài sám hối:

Ngã kim phả vị tứ ân, tam hữu, Pháp giới chúng sinh, tất nguyện đoạn trừ tam chướng, qui mệnh sám hối:

Chí tâm sám hối:
Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp
Giai do vo thủy tham, sân , si
Tòng thân , khẩu , ý, chi sở sinh
Nhất thiết ngã kim giai sám hối.

Như thị nhất thiết chư nghiệp chướng,
Tất giai tiêu diệt tận vô dư
Niệm niệm trí chu ư Pháp giới
Quảng độ chúng sanh giai bất thoái.

(Con nay nguyện xin đoạn trừ ba thư tội báo là nghiệp chướng, báo thân chướng và phiền não chướng, cho tất cả tứ ân, tam hữu và chúng sanh trong Pháo giới mà con qui mệnh sám hối)
( Từ xưa đến nay, con đã tạo ra biết bao nhiêu là ác nghiệp đều bởi ba cái tham, sân , si nó sui khiến thân con, miệng con, và bụng con tạo ra cả. Tất cả những tội ác ấy, từ nay con xin chừa, con xin sám hối , không dám còn nghĩ đến nữa. Cầu cho tất cả những nghiệp chướng ấy đều tiêu hết sạch, không còn sót lại một ly. Con nguyện cầu cho trí tuệ của con lúc nào cũng sáng suốt soi khắp Pháp giới, tức là soi khắp vũ trụ, cả không gian và thời gian. Con nguyện cầu độ thoát cho hết thẩy chúng sinh mà con không khi nào sờn lòng thối chí)
(Đọc xong bài sám hối này,ngồi kiết già hoặc bán già, 2 bàn tay ngữa, bàn tay phải để lên bàn tay trái, 2 đầu ngón cái chạm nhau). Đọc bài phát nguyện:
Khể thủ tam giới tôn
Quy mạng thập phương Phật
Ngã kim phát hoằng nguyện
Trì tụng chú Lăng Nghiêm
Thượng báo tứ trọng ân
Hạ tế tam đồ khổ
Nhược hữu kiến văn giả
Tức phát Bồ đề tâm
Tận thử nhất báu thân
Đồng sanh Cực lạc quốc.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

AN THỔ ĐỊA CHƠN NGÔN

Nam mô tam mẩn đa một đà nẩm. Án độ rô độ rô, địa vĩ ta bà ha. (3l)

THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế, ma ha già đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha (49 lần)

KIM CANG ĐạI LUÂN ÐÀ-RA-NI

NA-MA SƠ-TƠ RI-DA, ĐƠ-VI KA-NAM, SA-RƠ-VA TA-THA GA-TA-NAM: OM! VI-RA-DI VI-RA-DI, MA-HA CHA-KƠ-RA VA-DƠ-RI, SA-TA SA-TA, SA-RA-TÊ SA-RA-TÊ, TƠ-RA-DI TƠ-RA-DI, VI-ĐA MA-NI, SAM-BAM DA-NI, TƠ-RA MA-TI, SI-ĐA GƠ-RI-DÊ, TƠ-RAM, SƠ-VA-HA.
(7 lần)

THẦN CHÚ ĐẠI PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM

Nam Mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma ha tát ( 3 lần)

Diệu trạm tổng trì bất động tôn,
Thủ-Lăng-Nghiêm-Vương thế hi hữu,
Tiêu Ngã ức kiếp điên-đảo tưởng.
Bất lịch tăng-kỳ hoạch pháp thân,
Nguyện kim đắc quả thành bảo-vương,
Hườn độ như thị hằng sa chúng,
Tương thử thâm tâm phụng trần sát,
Thị tắc danh vị báo Phật ân:
Phục thỉnh Thế-Tôn vị chứng minh,
Ngũ-trược ác-thế thệ tiên nhập,
Như nhứt chúng sanh vị thành Phật,
Chung bất ư thử thủ nê-hoàn.
Đại –hùng đại -lực đại -từ-bi,
Hi cánh thẩm trừ vi-tế hoặc,
Linh ngã tảo đăng vô -thượng giác,
Ư thập phương giới tọa đạo tràng ;
Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong,
Thước –ca –ra tâm vô động chuyển.
Nam-mô thường-trụ thập-phương Phật.
Nam-mô thường-trụ thập-phương Pháp.
Nam-mô thường-trụ thập-phương Tăng.
Nam-mô Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật.
Nam-mô Phật Đảnh Thủ-Lăng-Nghiêm.
Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Nam-mô Kim-Cang-Tạng Bồ-Tát.

Nhĩ thời Thế-Tôn, Tùng nhục-kế trung, Dõng bá bảo-quang, Quang trung dõng xuất , Thiên diệp bảo liên,Hữu hóa Như-Lai,Tọa bảo hoa trung, Đảnh phóng thập đạo,Bá bảo quang-minh, Nhứt nhứt quang-minh, Giai biến thị hiện, Thập hằng hà sa, Kim-Cang mật tích, Kình sơn trì sử,Biến hư-không giới,Đại chúng ngưỡng quan, Úy ái kiêm bảo, Cầu Phật ai hựu, Nhứt tâm thính Phật, Vô-kiến đảnh tướng , Phóng quang Như Lai, Tuyên thuyết thần chú:

ĐỆ NHỨT HỘI
Nam mô tát đát tha tô già đa da a ra ha đế tam miệu tam bồ đà tỏa.
Nam mô tát đát tha Phật đà cu tri sắc ni sam.
Nam mô tát bà bột đà bột địa, tát đa bệ tệ.
Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đà cu tri nẩm. Ta xá ra bà ca tăng già nẩm.
Nam mô lô kê a la hán đa nẩm.
Nam mô tô lô đa ba na nẩm.
Nam mô ta yết rị đà già di nẩm.
Nam mô lô kê tam miệu già đa nẩm. Tam miệu già ba ra để ba đa na nẩm.
Nam mô đề bà ly sắc nỏa.
Nam mô tất đà da tỳ địa da đà ra ly sắt nỏa. Xá ba noa yết ra ha ta ha ta ra ma tha nẩm.
Nam mô bạt ra ha ma ni.
Nam mô nhơn đà ra da.
Nam mô bà già bà đế, lô đà ra da. Ô ma bát đế, ta hê dạ da.
Nam mô bà già bà đế.
Na ra dã noa da. Bàn giá ma ha tam mộ đà ra.
Nam mô tất yết rị đa da.
Nam mô bà già bà đế, ma ha ca ra da. Địa rị bác lặc na già ra. Tỳ đà ra ba noa ca ra da. A địa mục đế. Thi ma xá na nê bà tất nê. Ma đát rị già noa.
Nam mô tất yết rị đa da.
Nam mô bà già bà đế. Đa tha già đa cu ra da.
Nam mô bát đầu ma cu ra da.
Nam mô bạt xà ra cu ra da.
Nam mô ma ni cu ra da.
Nam mô già xà cu ra gia.
Nam Mô bà già bà đế, đế rị trà du ra tây na, ba ra ha ra noa ra xà da, đa tha già đa da.
Nam mô bà già bà đế.
Nam mô a di đa bà da, đa tha dà đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, a sô bệ da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, bệ sa xà da cu lô phệ trụ rị da bát ra bà ra xà da, đa tha già đa da.
Nam mô bà già bà đế, tam bổ sư bí đa, tát lân nại ra lặc xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, xá kê dã mẫu na duệ, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, lặc đác na kê đô ra xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da, đế biều nam mô tát yết rị đa, ế đàm bà già bà đa, tát đác tha già đô sắc ni sam, tát đác đa bác đác lam.
Nam mô a bà ra thị đam, bác ra đế dương kỳ ra, tát ra bà bộ đa yết ra ha, ni yết ra ha yết ca ra ha ni, bạc ra bí địa da sất đà nể, a ca ra mật rị trụ, bát rị đát ra da nảnh yết rị, tát ra bà bàn đà na mục xoa ni, tát ra bà đột sắc tra đột tất phạp bát na nể phạt ra ni, giả đô ra thất đế nẫm, yết ra ha ta ha tát ra nhã xà, tỳ đa băng ta na yết rị, a sắc tra băng xá đế nẫm, na xoa sát đát ra nhã xà, ba ra tát đà na yết rị, a sắc tra nẫm, ma ha yết ra ha nhã xà, tỳ đa băng tát na yết rị, tát bà xá đô lô nể bà ra nhã xà, hô lam đột tất phạp nan giá na xá ni, bí sa xá tất đát ra, a kiết ni ô đà ca ra nhã xà, a bát ra thị đa cu ra ma ha bác ra chiến trì, ma ha điệp đa, ma ha đế xà, ma ha thuế đa xà bà ra, ma ha bạt ra bàn đà ra bà tất nể, a rị da đa ra, tỳ rị cu tri, thệ bà tỳ xà da, bạc xà ra ma lễ để, tỳ xá rô đa, bột đằng dõng ca, bạt xà ra chế hắt na a giá, ma ra chế bà bác ra chất đa, bạc xà ra thiện trì, tỳ xá ra giá, phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa,tô ma rô ba, ma ha thuế đa, a rị da đa ra, ma ha bà ra, a bác ra, bạt xà ra thương yết ra chế bà, bạt xà ra cu ma rị, cu lam đà rị, bạt xà ra hắc tát đa giá tỳ địa gia kiền giá na ma rị ca, khuất tô mẫu bà yết ra đá na, bệ rô giá na cu rị da, dạ ra thố sắt ni sam, tỳ chiết lam bà ma ni giá, bạt xà ra ca na ca ba ra bà, lô xà na bạt xà ra đốn trỉ giá, thuế đa giá ca ma ra sát xa thi ba ra bà, ế đế di đế, mẫu đà ra yết noa, ta bệ ra sám, quật phạm đô, ấn thố na mạ mạ tỏa.

ĐỆ NHỊ HỘI

Ô hồng, rị sắt yết noa, bác lặc xá tất đa, tát đát tha già đô sắc ni sam. Hổ hồng, đô lô ung chiêm bà na, Hổ hồng, đô lô ung tất đam bà na. Hổ hồng, đô lô ung ba ra sắc địa da tam bát xoa noa yết ra. Hổ Hồng, đô lô ung, tát bà dược xoa hắt ra sát ta, yết ra ha nhã xà, tỳ đằng băng tát na yết ra. Hổ hồng, đô lô ung, già đô ra thi để nẫm, yết ra ha, ta ha tát ra nẫm, tỳ đằng băng tát na ra. Hổ hồng, đô lô ung, ra xoa, bà già phạm tát đát tha già đô sắc ni sam, ba ra điểm xà kiết rị, ma ha ta ha tát ra, bột thọ ta ha tát ra thất rị sa, cu tri ta ha tát nê đế lệ, a tệ đề thị bà rị đa, tra tra anh ca ma ha bạt xà lô đà ra, đế rị bồ bà na, mạn trà ra, ô hồng, ta tất đế bạc bà đô, mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.

ĐỆ TAM HỘI

Ra xà bà dạ, chủ ra bạt dạ, a kỳ ni bà dạ, ô đà ca ra bà dạ, tỳ xa bà dạ, xá tát đa ra bà dạ, bà ra chước yết ra bà dạ, đột sắc xoa bà dạ, a xá nể bà dạ, a ca ra mật rị trụ bà dạ, đà ra ni bộ di kiếm ba già ba đà bà dạ, ô ra ca bà đa bà dạ, lạt xà đàn trà bà dạ, na già bà dạ, tỳ điều đát bà dạ, tô ba ra noa bà dạ, dược xoa yết ra ha, ra xoa tư yết ra ha, tất rị đa yết ra ha, tỳ xá giá yết ra ha, bộ đa yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, bổ đơn na yết ra ha, ca tra bổ đơn na yết ra ha, tất kiền độ yết ra ha, a bá tất ma ra yết ra ha, ô đàn ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra ha, hê rị bà đế yết ra ha, xã đa ha rị nẫm, yết bà ha rị nẩm, rô địa ra ha rị nẩm, mang ta ha rị nẩm, mê đà ha rị nẩm, ma xà ha rị nẩm, xà đa ha rị nữ, thị tỷ đa ha rị nẩm, tỳ đa ha rị nẩm bà đa ha rị nẩm, a du giá ha rị nữ, chất đa ha rị nữ, đế sam tát bệ sam, tát bà yết ra ha nẩm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ba rị bạt ra giả ca hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, trà diễn ni hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ma ha bát du bác đát dạ, rô đà ra hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na ra dạ noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, đát đỏa già rô trà tây hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ma ha ca ra ma đát rị già noa hất rị đởm, tỳ đà dà xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ca ba rị ca hất rị đởm, Tỳ đà dạ xà sân đà da di, kê ra dạ di, xà dạ yết ra, ma độ yết ra tát bà ra tha ta đạt na hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, giả đốt ra bà kỳ nể hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ rị dương hất rị tri, nan đà kê sa ra dà noa bác đế, sách hê dạ hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na yết na xá ra bà noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, a-la-hán hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ đa ra già hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, bạt xà ra ba nể, cu hê dạ, cu hê dạ ca địa bát đế hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ra xoa vỏng, bà già phạm, ấn thố na mạ mạ tỏa.
ĐỆ TỨ

Bà già phạm, tát đát đa bác đá ra, Nam mô tý đô đế, a tất đa na ra lặc ca, ba ra bà tất phổ tra, tỳ ca tát đát đa bát đế rị, thập Phật ra thập Phật ra, đà ra đà ra, tần đà ra, tần đà ra, sân đà sân đà. Hổ hồng. Hổ hồng, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, ta ha, hê hê phấn, a mâu ca da phấn, a ba ra đề ha đa phấn, bà ra ba ra đà phấn, a tố ra tỳ đà ra ba ca phấn, tát bà đề bệ tệ phấn, tát bà na già tệ phấn, tát bà dược xoa tệ phấn, tát bà kiền thát bà tệ phấn, tát bà bổ đơn na tệ phấn, ca tra bổ đơn na tệ phấn, tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn, tát bà đột sáp tỷ lê hất sắc đế tệ phấn, tát bà thập bà lê tệ phấn, tát bà a bá tất ma lê tệ phấn, tát bà xá ra bà noa tệ phấn, tát bà địa đế kê tệ phấn, tát bà đát ma đà kê tệ phấn, tát bà tỳ đà da ra thệ giá lê tệ phấn, xà dạ yết ra ma độ yết ra, tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn; tỳ địa dạ giá lê tệ phấn, giả đô ra phược kỳ nể tệ phấn, bạt xà ra cu ma rị, tỳ đà dạ ra thệ tệ phấn, ma ha ba ra đinh dương xoa kỳ rị tệ phấn, bạt xà ra thương yết ra dạ, ba ra trượng kỳ ra xà da phấn, ma ha ca ra dạ, ma ha ma đát rị ca noa. Nam mô ta yết rị đa dạ phấn, tỷ sắc noa tỳ duệ phấn, bột ra ha mâu ni duệ phấn, a kỳ ni duệ phấn, ma ha yết rị duệ phấn, yết ra đàn trì duệ phấn, miệt đát trị duệ phấn, lao đát rị duệ phấn, giá văn trà duệ phấn, yết lạ ra đát rị duệ phấn, ca bác rị duệ phấn, a địa mục chất đa ca thi ma xá na, bà tư nể duệ phấn, diễn kiết chất, tát đỏa bà tỏa, mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.

ĐỆ NGŨ HỘI

Đột sắc tra chất đa, a mạt đát rị chất đa, ô xà ha ra, già bà ha ra, rô địa ra ha ra, ta bà ha ra, ma xà ha ra, xà đà ha ra, thị tỷ đa ha ra, bạc lược dạ ha ra, càn đà ha ra, bố sử ba ha ra, phả ra ha ra, bà tỏa ha ra, bác ba chất đa, đột sắc tra chất đa, lao đà ra chất đa, dược xoa yết ra ha, ra sát ta yết ra ha, bế lệ đa yết ra ha, tỳ xá giá yết ra ha, bộ đa yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, tất kiền đà yết ra ha, ô đát ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra ha, a bá tát ma ra yết ra ha, trạch khê cách trà kỳ ni yết ra ha, rị Phật đế yết ra ha, xà di ca yết ra ha, xá cu ni yết ra ha, mộ đà ra nan địa ca yết ra ha, a lam bà yết ra ha, kiền độ ba ni yết ra ha, thập Phạt ra yên ca hê ca, trụy đế dược ca, đát lệ đế dược ca, giả đột thác ca, ni đề thập phạt ra, tỷ sam ma thập phạt ra, bạc để ca, tỷ để ca, thất lệ sắt mật ca, ta nể bác đế ca, tát bà thập phạt ra, thất rô kiết đế, mạt đà bệ đạt rô chế kiếm, a ỷ rô kiềm, mục khê rô kiềm, yết rị đột rô kiềm, yết ra ha yết lam, yết noa du lam, đản đa du lam, hất rị dạ du lam, mạt mạ du lam, bạt rị thất bà du lam, tỷ lật sắc tra du lam, ô đà ra du lam, yết tri du lam, bạt tất đế du lam, ô rô du lam, thường già du lam, hắc tất đa du lam, bạt đà du lam, ta phòng án già bác ra trượng già du lam, bộ đa tỷ đa trà, trà kỳ ni thập bà ra, đà đột rô ca kiến đốt rô kiết tri, bà lộ đa tỳ, tát bác rô, ha lăng già, du sa đát ra, ta na yết ra, tỳ sa dụ ca, a kỳ ni ô đà ca, mạt ra bệ ra, kiến đá ra, a ca ra mật rị đốt đát liểm bộ ca, địa lật lặc tra, tỷ rị sắc chất ca, tát bà na cu ra, tứ dẫn già tệ yết ra, rị dược xoa, đác ra sô, mạt ra thị phệ đế sam, ta bệ sam, tất đát đa bác đát ra, ma ha bạc xà rô sắc ni sam, ma ha bác lặc trượng kỳ lam, dạ ba đột đà xá dụ xà na, biện đát lệ noa, tỳ đà da bàn đàm ca rô di, đế thù bàn đàm ca rô di, bát ra tỳ đà, bàn đàm ca rô di, đát điệt tha:

Án, a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạc xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bàn ni phấn. Hổ hồng, đô rô ung phấn, ta bà ha. (108 lần)

Án Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra (108 lần)

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (108 lần)

Đệ tử tên …. Nguyện đời đời kiếp kiếp thọ trì chú Lăng Nghiêm và hồi hướng tất cả công đức về cho tất cả mọi loài chúng sanh được trí huệ tăng trưởng, phát bồ đề tâm, tu hành rốt ráo thành Phật.

Chúng sinh vô biên, thệ nguyện độ
Phiên não vô tận , thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng , thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Tự tánh chúng sanh, thệ nguyện độ
Tự tánh phiền não, thệ nguyện đoạn,
Tự tánh Pháp môn , thệ nguyện học,
Tự tánh Phật đạo, thệ nguyện thành.

TAM TỰ QUY Y

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.
(1 lạy)

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải.
(1 lạy)

Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.
( 3 lạy)

Hòa nam thánh chúng
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đẳng dữ chúng sanh
Giai cộng thành Phật đạo.

Hết.

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM

QUYỂN I

QUYỂN II

QUYỂN III

QUYỂN IV

QUYỂN V

QUYỂN VI

QUYỂN VII

QUYỂN VIII

QUYỂN IX

QUYỂN X

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: